Monday, December 28, 2020

Quy luật con nhím


Hòa hợp với mọi người là một nghệ thuật, bất kể mối quan hệ là tình bạn hay tình yêu, quá thân thiết sẽ áp đặt ý muốn của mình lên người khác còn quá xa sẽ sinh ra sự xa cách nhau. Nếu cả hai đều không đáp ứng được kỳ vọng của nhau thì một ngày nào đó sẽ rất khó khăn để duy trì mối quan hệ và nhanh chóng tan rã.

Quá thân thiết là một thảm họa, vì mọi người đều mất đi sự tôn trọng cũng như dễ đi quá giới hạn của nhau. Còn một mối quan hệ không gượng ép có thể tránh được mất mát và sinh ra năng lượng tích cực.

Các nhà sinh vật học đã từng làm một thí nghiệm thú vị: Họ đưa hơn chục con nhím ra ngoài trời mùa lạnh. Những con nhím rùng mình vì lạnh và theo bản năng, chúng xúm vào nhau để sưởi ấm cho nhau.

Nhưng vì mỗi con nhím đều có gai nhọn trên cơ thể nên gần nhau hơn một chút, chúng sẽ đâm nhau chảy máu và để lại sẹo trên cơ thể của nhau rồi sẽ chạy tán loạn ngay lập tức. Bởi vì thời tiết lạnh giá, chúng chỉ có thể tiến lại gần nhưng bị thương, còn tản ra, lại bị lạnh và đành phải lùi về sau.

Cuối cùng, nếu tìm được một khoảng cách thích hợp, những con nhím này không những có thể sưởi ấm cho nhau mà còn không làm tổn thương những người bạn đồng hành. Các nhà sinh vật học gọi hiện tượng này là: "Quy luật con nhím."

Khoảng cách tạo ra vẻ đẹp, sự tôn trọng và yêu mến nhau. Không phải áp chế, mà là nhường người khác một bước và cũng là chừa một lối thoát cho chính mình, chỉ có loại quan hệ này mới thoải mái lâu dài.

Tại sao mọi người đau khổ? Bởi vì mọi người luôn làm cho nhau xấu hổ, cố chấp theo ý kiến ​​của mình và có hành động không phù hợp với đối phương.

Như mọi người đều biết, khi bạn ở "trên cơ" người khác, bạn có thể thỏa mãn nhu cầu của chính mình, đồng thời bạn đang cung cấp cho người khác lý do để chống lại bạn.

Khổng Tử nói: "Đừng làm điều mình không muốn với người khác".

Một mối quan hệ thoải mái dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau, nếu bạn làm tổn thương người khác, bạn cũng sẽ tự làm tổn thương chính mình, khiến người khác vô cùng khó chịu còn bạn sẽ tức giận.

Có câu nói: "Mọi thứ trên đời này đều không thể chịu được sự soi mói. Một khi đã bị soi mói, mỗi người đều ẩn chứa sự bất bình bên trong họ."

Cuộc sống mà, chúng ta đi chiều lòng và nịnh bợ người khác, dễ gây hấn và thích kiểm soát người khác. Nhưng chúng ta đã nhận được gì ngoài sự kiệt quệ về thể xác và tinh thần? Chẳng có gì cả.

Như một số người đã nói: Nếu một mối quan hệ được duy trì mà tôi phải cố gắng hết sức để làm hài lòng người khác, vậy tốt hơn hết là tôi nên quên nó đi.

Đừng làm phiền người khác, đừng ngược đãi bản thân. Dù là tình yêu hay tình bạn, không hẹn mà gặp, không cần quá gượng ép, không phụ lòng người khác, điều quan trọng nhất của cuộc đời là làm cho mình hạnh phúc.

Mọi chuyện đều có sự sắp xếp, có hợp rồi sẽ có tan. Cuộc sống giống như một cuộc hành trình, có rất nhiều người đồng hành cùng bạn trên một chặng đường nhưng lại có rất ít người đi cùng bạn đến cuối cùng, chỉ có bản thân mới là người bạn tốt nhất. Yêu bản thân là sự khởi đầu của một cuộc tình lãng mạn suốt đời. 

*****
Hãy tham gia vào thế giới của Cõi Tâm Linh để khiến bạn thấy tĩnh tâm, an lành và đầy niềm tin vào cuộc sống nhé.
Web : https://www.coitamlinh.com/
Fanpage : https://www.facebook.com/coitamlinhthegioihuyenbi
Group : https://www.facebook.com/groups/coitamlinh 
#coitamlinh,#tamlinhhuyenbi,#thegioihuyenbi,#1coitamlinh,#phatphap,#daomau

Wednesday, December 16, 2020

Giai đoạn cận tử nghiệp - Chết đi sống lại


Cách đây tầm hơn tháng, đi công chuyện, tiện đường tôi có ghé vào nhà một Liên hữu chơi, cũng là hỏi thăm tình hình sức khỏe, bà năm nay cũng già lắm rồi...

Gặp tôi, bà rất vui, vì cũng lâu lắm rồi không có dịp gặp nhau ở thất để cùng nhau đọc kinh, làm các công việc Phật sự...Nghe tôi vừa hỏi thăm, bà khoe ngay:
- Chú biết không? Vừa rồi tui bị chết đi sống lại, thiệt là... Phật chưa cho tui đi đây mà...

Hỏi chuyện, bà cho biết cũng chẳng đau ốm gì, chỉ là tuổi già, sức yếu mà thôi. Hôm đó đang chuẩn bị ăn cơm, vừa bưng chén cơm lên là cấm khẩu, không nói năng chi được hết, chén cơm rơi xuống nền nhà rồi cứ vậy chìm vào hôn mê...

Tôi hỏi bà cảm giác khi đó như thế nào? Có thấy ông bà cha mẹ, có niệm Phật được không?. Vì tôi biết bà là một Phật tử lâu năm, tu theo pháp môn Tịnh Độ, hồi trước khi thỉnh thoảng gặp nhau ở thất, tôi được nghe bà chia sẻ kinh nghiệm tu tập, từ việc đọc kinh, niệm Phật.... Tôi rất hoan hỷ, nghĩ rằng: Người tu tập tinh tấn như bà, khi lâm chung, kiểu gì cũng được vãng sanh, vì sự tu tập tinh tấn, niệm Phật nhớ Phật luôn luôn của bà....

Nhưng trái kỳ vọng của tôi về câu trả lời từ bà, bà cho biết:

- Khi đó có một luồng hơi lạnh, đi từ dưới bàn chân lạnh dần lên phía trên, bà biết rất rõ mình đang dần chết đi...

Tôi hỏi bà:
- Vậy bà có sợ hãi không? Có niệm được danh hiệu Phật A DI ĐÀ Không? Trong lời nguyện thứ 18 của Phật A DI ĐÀ, có nói đến việc: "Những chúng sanh trước lúc lâm chung, chỉ cần niệm danh hiệu Ngài từ một đến mười niệm, Ngài và Thánh chúng sẽ đến đón người đó về cõi Tây Phương Cực Lạc, nếu ngài không làm việc đó, quyết không thành Phật...

Tôi nghĩ với thời gian tu tập sâu dày như vậy, phải trên 40 năm niệm Phật như lời bà nói, thì lúc sắp sửa lâm chung, lời niệm Phật chắc chắn được phát ra... Nhưng bà cho biết rằng:

- Không thể niệm danh hiệu Phật được, cũng không phải do bản thân sợ hãi hay là gì, mà đơn giản là không hề nhớ đến sáu chữ Hồng danh mà bà đã từng quen thuộc!?

Tôi hỏi:
- Vậy rốt cuộc tại sao bà lại sống?
Bà nói khi đó bà hôn mê, không biết gì hết, con cháu đưa bà lên viện cấp cứu cả tiếng đồng hồ, trong trạng thái mơ màng, bà thấy cô em gái của bà hiện ra, nói:
- Chị về đi, vài bữa em đón...
Rồi bà tỉnh dậy.
..... Ngay đó, trong sự ồn ào xung quanh (nhà con của bà bán quán ăn) tôi nghe một giọng nói của người phụ nữ:
- Chị tui 82 tuổi là tui đưa đi...
Tôi quay lại hỏi bà:
- Năm nay bao nhiêu tuổi rồi?
Bà trả lời:
- Tám hai tuổi rồi chú ơi!
Tôi cười nói với bà:
- Đợt vừa rồi coi như là bà chết giả, Phật chưa đón bà là để bà tập dượt lại, chết cho hoành tráng. Bà nhớ niệm Phật luôn luôn nha, niệm cho nhớ... Chắc là năm ni bà đi lại, con nhắc bà: Ai cũng một lần, bà có mấy mươi năm tu tập, có đi thì đi cho hoành tráng để đồng đạo nhìn vào đó mà noi gương nha. Đừng phụ công Phật lúc nào cũng sẵn sàng đón bà về Tây Phương Cực Lạc...

Bà nói:

- Hồi em gái tôi còn sống, hai chị em có gặp một ông sư, ông có nói em tui sẽ chết năm bảy sáu tuổi, còn tui mất năm tám hai. Em tui năm bảy sáu mất rồi, còn tui....

Chào bà ra về, tôi cứ suy nghĩ mãi: Không dễ gì mà về cảnh giới thù thắng của Phật được nếu trước lúc lâm chung không thốt nên lời niệm Phật. Liên hữu có mấy mươi năm niệm Phật, khi lâm chung, giây phút cận tử nghiệp không có điều gì bức bách, vậy mà vẫn không cất lên lời niệm Phật?......

Lê Cẩm Tú: "Bà có 40 năm Niệm Phật mà phút lâm chung không nhớ nổi Danh Hiệu Phật. Vậy như người thường hay ít Niệm thì lúc đó chắc hoảng loạn, sợ hãi lắm phải không anh!"

Tác giả: Đúng vậy em. Giây phút cận tử nghiệp của người sắp chết thường rất đau đớn, khổ sở. Trong kinh Phật có nói đến trạng huống này, nó giống cảm giác của một con rùa lột vỏ. Khi sắp chết, bao nhiêu là oán thân trái chủ bâu lấy, xâu xé hành hạ người sắp chết, thần thức những người này hoảng hốt kinh hoàng, thì lấy đâu mà nhớ Phật, niệm Phật?

Chỉ những người có quá trình tu tập sâu dày, niệm Phật thành phiến, thì họ sẽ có năng lực biết được trước giờ chết của mình, khi sắp lâm chung, họ tỉnh táo niệm Phật, hoặc có phước lành được đồng đạo hộ niệm.. Thì người đó mới chắc chắn được về Tây Phương Cực Lạc thế giới.

Lê Trần Thiện Đức: Nói chung sống sao thì sống, hạnh phúc nhất không phải tiền nứt vách đổ tường mà là một ngày nào đó tuổi già không bệnh tật, sau đó ngủ rồi mất luôn là hạnh phúc nhất. Ông cố tôi ăn ở rất hiền lành và thương người, ngày nào cũng vào đình làng ngồi ghế bố uống trà. Một bữa nọ ổng uống trà xong dựa vào ghế bố rồi ra đi luôn. Tôi thấy thật an lành làm sao, mất luôn tại ngôi đình...

******

- Oán thân trái chủ là gì vậy ạ??

Tác giả trả lời:

Oán thân trái chủ có thể hiểu đó là những kẻ thù của chúng ta, mà chính bản thân chúng ta đã gây tạo ra trong kiếp này và những kiếp trước. Ví dụ trong một kiếp nào đó, ta giết người, hoặc dồn ép ai đó phải chết oan uổng, hồn họ cứ theo ta đòi mạng. Hoặc trong kiếp này, ta giết con trâu, con bò... hồn của chúng cũng chờ khi ta sắp chết để đòi mạng.

Trong Kinh Lương Hoàng Sám, có nói đến câu chuyện của Ngộ Đạt Quốc Sư: Trong 9 kiếp trước, vì xàm tấu với vua mà một người đã bị chém oan, hồn người đó đã theo Ngộ Đạt Quốc Sư 9 kiếp để báo thù, nhưng vì trong 9 kiếp đó, ngài làm sư, giữ gìn phạm hạnh nên oán thân trái chủ kia không làm gì được. Trong kiếp hiện tại, ngài cũng làm tăng, được vua kính trọng, tôn làm Quốc sư, lại tặng cho một cái ghế bằng trầm hương. Trong một lúc đắc chí, ngài cảm thấy mình quá ư là viên mãn, sinh tâm kiêu ngạo, hộ pháp bỏ ngài đi nên oán thân trái chủ kia vào được trong người, hiện ra cái nhọt hình mặt người ở đầu gối, biết ăn, biết nói chuyện, đau đớn vô cùng..... Sau nhờ nước suối cam lồ của một vị bồ tát rửa mới sạch ân oán của hai bên...

Ngài đã viết ra bộ kinh Lương Hoàng Sám để sám hối tội nghiệp và cảnh sách thế nhân.....
(Tri ân công đức tác giả Hiếu Giang)

*****

Hãy tham gia vào thế giới của Cõi Tâm Linh để khiến bạn thấy tĩnh tâm, an lành và đầy niềm tin vào cuộc sống nhé.
Web : https://www.coitamlinh.com/
Fanpage : https://www.facebook.com/coitamlinhthegioihuyenbi
Group : https://www.facebook.com/groups/coitamlinh
#coitamlinh,#tamlinhhuyenbi,#thegioihuyenbi,#1coitamlinh,#phatphap,#daomau

Monday, November 9, 2020

Người nặng vía, nhẹ vía là gì?


Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường nghe mọi người nói đến việc nhờ người nhẹ vía mở hàng sẽ rất đắt khách, ngược lại - nếu ai không may bị người nặng vía mở hàng thì sẽ cực kỳ ế ẩm. Điều này hoàn toàn không mang yếu tố tâm linh hay ma quỷ. Không chỉ vậy, có những người nặng vía tới mức chỉ cần khen bé đáng yêu là em bé đó về sẽ ốm, chỉ cần khen đàn lợn đẹp là đàn lợn lăn quay ra chết. Vậy người vía nhẹ - vía nặng - vía lành - vía dữ ..là gì?

HỒN, VÍA LÀ GÌ?

Theo Phật giáo, "hồn" là tầng thức sâu lắng nhất của tâm - ý thức, với các tên gọi khác nhau như "A - lại - da thức", "chủng tử", "nghiệp lực". Nó là "tinh linh" của con người, vẫn tồn tại sau khi con người chết về mặt sinh học - vật lí. Vía (phách) cũng là dạng tinh thần - ý thức nhưng nó thô, nặng hơn, tương đương với "mạt - na thức", tức là cái "thức" do các giác quan đưa lại còn lắng đọng. Nó cũng tồn tại một thời gian sau khi con người chết (Phật giáo gọi là "thân trung ấm" (Bado), sau đó sẽ tan dần).

Thực ra, theo nhiều tài liệu, khái niệm hồn phách có nguồn gốc từ Đạo giáo. Vía chính là phách theo cách gọi của người Việt.

NẶNG VÍA NHẸ VÍA THEO QUAN NIỆM DÂN GIAN

Nặng bóng vía hay nhẹ (yếu bóng vía) - các cụ xưa cho rằng đó là do từ lúc con người hình thành âm dương trong cơ thể không đều với nhau, dương nhiều hơn âm hoặc ngược lại âm nhiều hơn dương thì sinh ra nhẹ vía hoặc nặng vía. Sự khác biệt giữa nặng và nhẹ vía cũng được mọi người phân ra như sau:
- Một khi phần âm nhiều hơn phần dương, chênh lệch với nhau thì vía của người này rất yếu. Bởi vậy, khi bị sợ hãi quá độ có thể khiến người ấy kinh sợ đến thất thần, không tập trung được, hay lơ đãng và dễ bị kẻ khuất mày khuất mặt đi theo. Đặc biệt người nhẹ vía dễ nhìn thấy người âm. Trong cuộc sống, người nhẹ vía lại rất hay gặp may mắn, xông vía cho người khác khách sẽ tới ùn ùn. Khi ngủ say, người nhẹ bóng vía thần hồn rất dễ xuất ra đi ngao du khắp nơi, lúc này ngoài đời dù có chuyện như thế nào cũng khó biết và tỉnh dậy.
- Còn trong trường hợp dương thịnh âm suy thì vía của người này nặng, rất khó có thể thấy được ma quỷ. Người nặng bóng vía ngược lại đối với người nhẹ vía, khi họ đi tới đâu ví như nơi nào đang buôn bán tốt bổng người nặng bóng vía tới thì nơi ấy sẽ ế ẩm vô cùng.

Tuy nhiên, tất cả những quan niệm này không hẳn đúng. 

TỤC ĐỐT VÍA

Từ quan niệm người ta sinh ra có thể xác thì có hồn vía, đàn ông ba hồn bảy vía, đàn bà ba hồn chín vía đó, mà dân gian lưu truyền rất nhiều câu chuyện về vía và chuyện vía lành, vía dữ.
Nếu người nào sáng bước ra chợ mở hàng cho tiệm đó mà tiệm đó cả ngày vắng bóng khách thì chắc hẳn người này bị nặng vía. Chủ tiệm phải đốt vía xả xui.
Hoặc một đứa trẻ mới đẻ gặp một người nào đó quấy khóc thì người đó nặng vía. Nên đốt vía. Trong mỗi gia đình có trẻ mới sinh thường sẽ rất chú ý kiêng kị. Đặc biệt là ái ngại về những người vía dữ.

Nếu có người lạ đến nhà chơi mà trẻ em khóc thì gia đình thường phải đốt vía (trường hợp nặng phải làm lễ cúng vía).

Có khi vì quá sợ hãi bất thần như bị ngã, bị kinh động đứa trẻ có thể bị mất vía, hoá ra ngớ ngẩn, lúc ngủ hay giật mình.

Muốn đứa bé trở lại bình thường, các gia đình phải làm lễ chuộc vía. Có trường hợp trẻ đang chơi ngoan nhưng vì gặp người lạ hoặc người có vía dữ thì sẽ quấy khóc suốt đêm, thậm chí là nhiều ngày sau đó. Trong dân gian còn gọi đây là chứng khóc dạ đề.

Ban ngày các bé thường chơi ngoan, nhưng cứ đêm là thức và khóc suốt không thôi. Bé khóc giống như bị ai cấu xé. Các gia đình thường phải dùng nhiều mẹo chữa dân gian như đốt vía, thắp hương, chặt cành dâu để đầu giường cho các bé.

GIẢI MÃ VÍA NẶNG, VÍA NHẸ THEO KHOA HỌC?


Xét theo khía cạnh khoa học, người ta chứng minh rằng mỗi cơ thể của con người có hàng tỷ tế bào và mỗi tế bào ấy được ví như một chiếc pin sống. Chiếc pin này cực nhỏ nên năng lượng phát ra cũng rất bé. Những người vía nặng chỉ do pin trong người phát ra mạnh hơn người khác mà thôi. Nên dẫn đến một số trạng thái như mệt mỏi, uể oải. Vì thế, trẻ em dễ quấy khóc trong đêm hay khó ngủ, dễ giật mình thức giấc, trong lòng thường cảm thấy bất an,…

Hiểu một cách đơn giản, “vía” được xem như năng lượng sinh học trong cơ thể người. Và không những ở con người mà các loài cây cỏ thực vật cũng có. Biểu hiện là ban đêm, những gốc cây có bề rộng to lớn do nguồn năng lượng âm phát ra rất cao.

Nếu xét về khía cạnh khoa học, người ta sẽ khuyên bạn nên tránh xa những nơi có từ trường mạnh. Chẳng hạn như gốc cây to, nghĩa trang, nhà xác.

Còn theo ông bà ta ngày xưa, để hóa giải vía nặng nên đặt vòng tỏi ngay đầu giường. Hoặc đặt chiếc dao, cây kéo dưới gối nằm. Thế nhưng, nhà có trẻ nhỏ phải tuyệt đối lưu ý đến vấn đề này. Tránh gây thương tích đến các bé. Sau khi đi từ chỗ tang lễ hay những nơi có âm khí về nên đốt vía.

NHẬN BIẾT NGƯỜI NẶNG VÍA, NHẸ VÍA VÀ NGƯỜI CÓ VÍA LÀNH, VÍA DỮ NHƯ THẾ NÀO?


Bỏ qua các vấn đề về khoa học, các vấn đề về tâm linh mà các cụ xưa truyền lại, chúng ta hãy cùng quan sát xung quanh để biết như thế nào là người nặng vía (có vía dữ), như thế nào là người nhẹ vía (vía lành). Để ý kỹ bạn sẽ thấy:
- Những người có vía lành (nhẹ vía) là người có An Lạc Khí rất mạnh và vượng. Từ cơ thể đến tinh thần họ đều toát ra năng lượng tích cực tràn đầy
- Những người nặng vía (vía dữ) sẽ là những người có An Lạc Khí rất thấp.

Không chỉ mở hàng đắt khách, những người có An Lạc Khí, năng lượng tích cực cũng có thể xoa dịu, đem đến năng lượng bình yên cho các đối tượng xung quanh.

Cách để giúp bản thân gìn giữ và tăng trưởng An Lạc Khí, năng lượng tích cực đó là nên thường xuyên giữ trường chay giới sát, hạn chế lui tới hay tiếp xúc những nơi ô trược, luôn giữ tâm tánh bình hoà, không vướng mắc, luôn thiện hành, đem tới lợi lạc thật nhiều cho muôn sinh.

Ngược lại, người ít có năng lượng tích cực, hoặc có nhiều năng lượng tiêu cực, uế trược thường khiến những ai có tiếp xúc với họ dễ cảm thấy khó chịu, khiến các đối tượng khác dễ lánh xa. Cho nên, khi họ bước vào hàng quán, cửa tiệm thì sau đó chẳng ai bán buôn gì được nữa. Tương tự, nếu như trẻ sơ sinh tiếp xúc với họ thì sẽ thường quấy khóc, có khi đang khoẻ thì tự nhiên bị bệnh.

Còn nói một chút về những người yếu vía, yếu tinh thần. Những người như vậy thường dễ thấy ma quỷ, thấy các chuyện tâm linh. Nhưng cũng có trường hợp, nếu quá yếu vía, thì thường các vong linh sẽ không thị hiện cho họ thấy. Vì nếu lỡ thấy, quá kinh động, hoảng sợ, họ có thể sẽ mất mạng. Hãy tham gia vào thế giới của Cõi Tâm Linh để khiến bạn thấy tĩnh tâm, an lành và đầy niềm tin vào cuộc sống nhé.

******************************
Web : https://www.coitamlinh.com/
Fanpage : https://www.facebook.com/coitamlinhthegioihuyenbi
Group : https://www.facebook.com/groups/coitamlinh
#coitamlinh,#tamlinhhuyenbi,#thegioihuyenbi,#1coitamlinh,#phatphap,#daomau

Wednesday, October 28, 2020

Cách xem LONG MẠCH: Các loại long mạch TỐT - XẤU


Long mạch là địa mạch mạnh mẽ, mềm mại, thoắt ẩn thoắt hiện như rồng. Địa mạch lấy hướng núi sông làm tiêu chí. Vì vậy, các nhà phong thủy gọi địa mạch là long mạch, là khí mạch đi theo mạch núi. Vậy cách tìm long mạch như thế nào? Các loại long mạch tốt xấu ra sao?

LONG MẠCH TRONG PHONG THUỶ

Phong thủy là một học thuyết dựa vào việc lựa chọn hoàn cảnh môi trường được phát triển trong thực tiễn cuộc sống trong suốt thời cổ đại ở Trung Quốc. Nó được sinh ra và phát triển dưới tiền đề của thực tế cuộc sống, là một hệ thống tri thức có tính ứng dụng rất cao, có những phương pháp thao tác ứng dụng đặc biệt. Qua một thời gian dài, do sự truyền bá của phong thủy có tính thần bí, phương pháp thao tác của phong thủy bị người ta coi là điều cao sâu khó nắm bắt, vì vậy người hiểu biết phong thủy thường chỉ biết điều tất nhiên mà không biết nguyên nhân, nhìn thấy cái ngọn mà không thấy cái gốc.

Ngày nay, chúng ta nghiên cứu về phong thủy phải bắt đầu từ việc nghiên cứu phương pháp thao tác của phong thủy, "Vạn sự đều có căn nguyên" tức là hiện tượng nào, sự vật, sự việc nào cũng đều có nguyên nhân, có nguồn gốc của nó, có như vậy mới có thể hiểu được chính xác toàn bộ quá trình hình thành của môn phong thủy.

Dù là phong thủy phái hình thế hay phong thủy phái lý khí, "Tướng địa" (xem hình dạng cuộc đất) đều phải tuân theo một trình tự là:
Trước tiên lựa chọn hình thế lớn của núi sông
Sau đó lựa chọn hoàn cảnh môi trường nhỏ của cuộc đất, tức là từ lựa chọn vĩ mô đến lựa chọn vi mô. Sự lựa chọn hoàn cảnh môi trường vĩ mô và hoàn cảnh môi trường vi mô đều không thể tách rời La kinh phong thủy.

Lựa chọn mô hình núi sông chủ yếu là việc lựa chọn hoàn cảnh môi trường lớn bên ngoài nơi ở, như long mạch, sa thủy, huyệt hình, tọa hướng, v.v... tức là tương đương với 5 yếu tố lớn là "long, huyệt, sa, thủy, hướng" ở trong "Địa lý ngũ quyết".

LONG MẠCH LÀ GÌ

Long mạch là địa mạch mạnh mẽ, mềm mại, thoắt ẩn thoắt hiện như rồng. Địa mạch lấy hướng núi sông làm tiêu chí. Vì vậy, các nhà phong thủy gọi địa mạch là long mạch, là khí mạch đi theo mạch núi.

Nói về long mạch phải phân biệt mạch chính và mạch nhánh. Tìm được mạch chính mà lại đặt huyệt ở mạch nhánh là không cát.

Long mạch có quan hệ mật thiết với các núi, gò của huyệt mộ. Nếu chân long (long mạch chính) thì cần có nhiều gò núi bảo vệ. Nếu có nhiều gò núi hộ vệ, chủ về sự phú quý. Nhưng nếu mất khí của long mạch là đại hung.

Nhận đúng long mạch sau đó phải quan sát thủy khẩu (gò, núi xung quanh hoặc ở giữa cửa sông), Án Sơn (núi che chắn phía trước huyệt mộ), Triều Sơn (núi ở phía trước nhưng xa huyệt mộ hơn Án Sơn), minh đường (khoảng trống phía trước huyệt mộ), Thanh Long (gò, núi ở bên trái huyệt mộ), Bạch Hổ (gò, núi ở bên phải huyệt mộ).

Thế của long mạch lấy mềm mại, linh hoạt làm quý. Long mạch lên xuống trùng trùng, uốn lượn như cá nhảy chim bay gọi là sinh long, là địa huyệt cát. Nếu long mạch thô thiển, ngang, ngược, cồng kềnh, uể oải như cây khô, cá chết là tử long, là địa huyệt hung.

Nhà phong thủy chia long mạch thành các loại: cường long, nhược long, phì long, thuận long, nghịch long, tiến long, thoái long, bệnh long, kiếp long, sát long, chân long, giả long, quý long, tiện long…

Long mạch được núi vây quanh dày đặc là sự bao bọc, hộ vệ tốt hay còn gọi là có tình - không lệch, không đi ngược nên các thầy nói là “Sơn Thủy đồng hành – Sơn thủy hữu tình”. Hình thế long mạch được xem là cát thì phải đoan trang, nho nhã, tú lệ. Nếu chủ (long mạch chính) và khách (long mạch nhánh) không phân biệt được rõ ràng, núi mọc lung tung, đá núi lộn xộn, hình thù kỳ quái là ác hình. Nơi đây an táng rất hung, là đại kỵ.

CÁCH TÌM LONG MẠCH TỐT?

Công việc của một thầy Phong Thủy đó là các bước: Tầm Long, điểm Huyệt, phân kim, lập hướng.

Thứ nhất trong thao tác xem phong thủy là phải xác định hình thế của lai long (rồng đến, tức hướng long mạch đến) trên phạm vi vĩ mô. Liên quan đến khái niệm "long mạch", rất nhiều sách phong thủy đã bàn tới, tác giả Diệp Cửu Thăng trong tác phẩm "Địa lý đại thành, sơn pháp toàn thư" có ghi: "Long là gì? Chính là sơn mạch... đất là thịt của rồng, đá là xương của rồng, cỏ cây là râu tóc của rồng". Một tác phẩm phong thủy khác là "Âm Dương nhị trạch toàn thư" cũng có ghi: "Địa mạch đi đứng nhấp nhô là rồng"...

Thật ra, long mạch trong phong thủy là chỉ tình trạng mặt đất nhấp nhô (xét về ngoại hình, sơn mạch liên quan đến sinh khi ở trong đất). Long mạch không chỉ có ở nơi núi cao sông sâu mà ngay cả ở nơi bình địa tức đồng bằng hay như ngay trên đồng ruộng bởi “Cao nhất thốn vi sơn, hạ nhất thốn vi thủy” cao một tấc cũng là núi, thấp một tấc cũng là nước là đã hình thành nên địa thế phong thủy.

Nhìn thế đi của núi non để tìm long mạch, trong phong thủy là nghiên cứu về nguồn gốc của long mạch đến, cũng tức là liên quan đến sinh khí. Hoàng Diệu Ứng đời Tống đã viết trong tác phẩm "Bát sơn thiên": "Phương pháp tìm long, tìm tổ tông, tìm nơi ở của tổ tông, phụ mậu là phương pháp cao siêu". Tức ý nói là tìm long trước tiên phải tìm núi tổ tông, sau đó tìm núi phụ mẫu. Núi tổ tông là nơi quần sơn phát mạch, núi phụ mẫu là đầu vào của sơn mạch ở huyệt trường. Thông thường bắt đầu từ nơi quần sơn phát mạch, sự sắp xếp của các núi là: "Trước tiên đỉnh nhô cao là tổ, đỉnh thứ đến là tông, sau đó hai đỉnh bên trái bên phải là phụ mẫu", "Bắt đầu từ tổ tông mà thấy thai tức dựng dục của phụ mẫu", cuối cùng "xem xét hình thế mà tìm huyệt". Sở dĩ nhấn mạnh long mạch phải ở xa xôi đến là vì "Ở xa thì long mạch dài, đắc thủy nhiều, ở gần thì long mạch ngắn, đắc thủy ít". Trong phong thủy lấy đắc thủy làm ưu tiên, tàng phong là kế đến, ở miền núi thì tàng phong làm trọng, ở đồng bằng thì đắc thủy làm trọng, vì vậy long mạch từ xa đến thường là nước chảy dài mà đến, cho nên mới nói "Nguồn xa chảy dài".

Long lớn thế lớn, đó là điều trong phong thủy thường yêu cầu. Người ta đã dựa vào hình thái của dãy núi để chia long mạch ra làm 9 hình thức là:
- Hồi long - Hình thế uốn lượn, hướng về tổ tông giống như rồng khoanh hổ ngồi.
- Xuất dương long - Hình thế uốn lượn vươn tới giống như con thú ra khỏi rừng, con thuyền vượt biển.
- Giáng long - Hình thế sừng sững uy nghi, núi cao dốc đứng, giống như nhập triều đại tọa, phi ngựa phất cờ
- Sinh long - Hình thế cong lượn, tầng tầng lớp lớp, như con rết dương chân, như chuỗi ngọc, như dây leo.
- Phi long - Hình thế bay lượn, trầm bổng nhanh nhẹn, như con nhạn vút lên, như chim ưng sải cánh, hai cánh mở rộng như phượng múa loan bay.
- Ngọa long - Hình thế vững vàng chắc chắn như hổ ngồi, như voi đứng, như trâu ngủ, như tê giác nằm.
- Ẩn long - Hình thế bàng bạc, mạch lý tiềm tàng, hiện lên như tấm thảm trải dài ra.
- Đằng long - Hình thế cao xa, to lớn hiểm trở như vút lên trời cao, mây mù giăng tỏa.
- Lãnh quần long - Hình thế dựa theo, thưa dầy tụ hợp như bầy hươu, bầy cừu chạy, như bầy cá bơi, như bầy chim bay.

Ngoài ra, trong "Bát sơn thiên" còn đưa ra khái niệm "Ngũ thế" như sau:
- Chính thế - Long mạch phát xuất từ phương Bắc hướng về phương Nam. .
- Trắc thế - Long mạch phát xuất từ phía tây, kết huyệt ở phía bắc, mà hướng về phương Nam.
- Nghịch thế - Long mạch ngược với thủy mà hướng lên, thủy thuận chảy xuống.
- Thuận thế - Long mạch thuận theo thủy mà hướng xuống, thủy nghịch mà chảy lên.
- Hồi thế - Thân long mạch quay về sơn tổ làm hướng

CÁCH NHẬN BIẾT CÁC LOẠI LONG MẠCH TỐT VÀ XẤU

Vì long mạch biến hóa đa đoan, cho nên chủng loại của nó trong thực tế cũng rất nhiều. Nhưng khái quát lại, còn có một phương pháp phân loại khác là: sinh long, tử long, cường long, nhược long, thuận long, nghịch long, tiến long, thoái long, phúc long, bệnh long, kiếp long, sát long. Trong số đó
Sinh long, cường long, thuận long, tiến long, phúc long là cát long (tức long mạch tốt)
Tử long, nghịch long, thoái long, bệnh long, kiếp long, sát long là các long mạch xấu.
Cụ thể như sau: 

Sinh long:
Thế núi hùng vĩ, tinh phong tú bạt, thế đi lỗi lạc, phải trái có vây cánh, các chi hoạt bát mà hướng tới trước, đều có sinh khí. Cho nên loại long mạch đến này rất tốt.
Tử long:
Thế núi cứng nhắc như rắn chết, thiếu tay chân, loại long mạch này không hiển linh.

Cường long:
Thế núi hùng vĩ, thế đi ngang tàng, sức mạnh cực lớn như vạn mã phi nước đại. Cho nên, đây là loại long mạch rất tốt.

Nhược long:

Thế núi đến ốm yếu, giống như bộ xương khô, phân nhánh co rút, lực của sơn thể cũng vậy. Loại long mạch đến này không tốt.

Thuận long:
Loại long mạch này thế thuận mà xuất, phân nhánh đều bài bố thuận, thế đi đoàn tụ, tôn ty có trật tự cùng tiến tới, trên dưới chiếu cố nhau, phải trái ôm vào, đều là hữu tình mà không quên. Loại long mạch này rất quý.

Nghịch long:
Thế long mạch đang đi tới bỗng quay ra sau, cao thấp loạn xạ, ngọn núi nghiêng lệch, phân nhánh đều theo hướng nghịch lại, thanh long bạch hổ đều không hộ vệ thế đi trái khuấy. Loại long mạch này cũng rất xấu.

Tiến long:
Thế núi đế nhau dư, phân nhánh đều nhau giống như ôm xuống, hình thế hậu long từng đoạn tăng cao dần. Loại long mạch này cũng rất tốt.
Thoái long:
Thế núi mất trật tự, tay chân ngắn dần, thế long mạch lùi về sau, thế đi gắng gượng, bắt đầu nhỏ về sau càng lớn. Loại long mạch này rất xấu.

Phúc long:

Long mạch lấy tổ tông làm tôn quý, bản thân long mạch đến hai bên đều kín kẽ, trước sau chiếu cố nhau, chân tay tuy không lớn nhưng cồ kho có lẫm, sơn minh thủy tú, ngọn núi không không cao chót vót .nhưng không thô không xấu. Đây là long mạch chủ về phát phúc lâu dài.

Bệnh long:

Bản thân long mạch bất toàn, có đẹp có xấu, phân nhánh bên có bên không, bên sinh tử, bên đẹp bên xấu, hoặc một bên thì kín kẽ, một bên thì khuyết hảm. Loại long mạch này thuộc về long mạch xấu.

Đồng bệnh long:

Long mạch đến tinh phong tú bạt, hẻm núi kín kẽ, phân nhánh thuận nhiều trông rất ưu mỹ. Nhưng vì chỗ trọng yếu của long mạch đến: hoặc gãy khúc, hoặc nát vụn, hoặc lẫn lộn đất đá, nên không tốt.

Kiếp long:
Loại long mạch đến này phân nhánh rất nhiều, nhưng lại không đoan chính, đông tây loạn xạ khiến chân khí phân tán, long mạch không tụ, không tốt.

Sát long:
Long mạch đến mang theo sát khí, vì bản thân rời sơn tổ mà đến nên đá núi hiểm trở, lởm chởm. Loại long mạch này rất xấu. "Cửu long", "Ngũ thế" và cách phân loại trên đều là những cách phân biệt long mạch trong quá trình xem cuộc đất trong phong thủy. Tên gọi của chúng bắt nguồn từ "Phái hình pháp", là một cách phân loại địa thế, địa thể theo hình dạng thế núi dựa vào địa hình địa thế. Nhưng những người đi tiên phong của phái Lý khí còn tiến hành phân loại những hình thế tổng quát của hình dạng núi, đã đưa ra thuyết "Ngũ tinh" và thuyết "Cửu tinh" .
Thuyết "Ngũ tinh" chủ yếu chịu ảnh hưởng của thuyết ngũ hành, đã phân chia hình thái của các đỉnh núi ra thành 5 loại kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Kim đầu tròn mà chân rộng, mộc đầu tròn mà thân thẳng, thủy đầu bằng mà có sóng giống như rắn bơi trong nước, hỏa đầu nhọn mà chân rộng, thổ đầu bằng mà chân thanh tú đẹp đẽ.

Trong phong thủy cho rằng nếu như trong môi trường có đủ cả năm hình thế núi thì khí vận hành là tốt nhất, trong đó cũng có vẽ đính kèm rất nhiều những hình đồ của thuyết Mệnh lý tinh quái.

Vì chịu ảnh hưởng của Lạc thư cửu cung, trong phong thủy lại chia thế núi ra thành 9 loại hình, gọi là "Cửu tinh". Cửu tinh bao gồm: Tham Lang, Cự Môn, Lộc Tồn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá Quân, Tả Phụ, Hữu Bật.

Cửu tinh thông thường liên hệ với quái vị, cát hung và ngũ hành sinh khắc hàm ý cơ bản của chúng đều theo thuộc tính của ý nghĩa tên tinh tú, ngũ hành và thứ tự cát hung như sau:
- Tham Lang, Sinh Khí, thuộc mộc - thượng cát.
- Vũ Khúc, Diên Niên, thuộc kim - thượng cát.
- Cự Môn, Thiên Y, thuộc thổ - trung cát.
- Tả Phụ, Phục Vị, thuộc mộc- tiểu cát.
- Phá Quân, Tuyệt Mệnh, thuộc kim - đại hung.
- Liêm Trinh, Ngũ Quỷ, thuộc hỏa - đại hung.
- Lộc Tồn, Họa Hại, thuộc thổ - thứ hung.
- Văn Khúc, Lục Sát, thuộc thủy - thứ hung.
- Hữu Bật - Bất Định.

Quan niệm cát hung của cửu tinh chủ yếu là dùng vào việc xem dương trạch (xem nhà ở).

Khi phân biệt về hình thế của long mạch, còn phải chú ý đến hoàn cảnh chung quanh chủ long, phải có che chắn bảo vệ, hai bên long mạch phải có tiền hô hậu ủng mới có thể cho là khí thế to lớn hùng tráng.
(Tổng hợp)

*****
Hãy tham gia vào thế giới của Cõi Tâm Linh để khiến bạn thấy tĩnh tâm, an lành và đầy niềm tin vào cuộc sống nhé.
Web : https://www.coitamlinh.com/
Fanpage : https://www.facebook.com/coitamlinhthegioihuyenbi
Group : https://www.facebook.com/groups/coitamlinh
#coitamlinh,#tamlinhhuyenbi,#thegioihuyenbi,#1coitamlinh,#phatphap,#daomau

Wednesday, October 21, 2020

Tu để làm gì? Tu để thấy gì?


Trong đạo Phật, đạo Mẫu, đạo Giáo.. chúng ta thường nghe thấy mọi người nhắc về tu hành. Vậy tu để làm gì? Tu để thấy gì? Tu để làm thầy có phải không?

TU TẬP ĐỂ LÀM GÌ?

Tu tập để hiểu bản thân mình cần gì, mình điều tiết các nhu cầu đó ra sao để không ảnh hưởng tiêu cực đến xung quanh, không gây hại xung quanh

Ví dụ ăn để sống, mà cái ăn của mình phải sát mạng loài khác để sinh tồn thì cần tiết chế ra sao để không gây hại muôn loài, giảm tối đa sát nghiệp có thể. Vì chúng sinh nào cũng muốn sống, muốn được bình an và hạnh phúc

Nhu cầu mặc để ấm hay mặc để đẹp, người ta vì cái đẹp, cái ấm đó mà sát mạng các loài động vật có da lông đẹp dày ấm để khoác lên mình, vậy nhu cầu đó nó không hợp lí lắm vì mình chỉ cần ấm hay đẹp, tại sao phải sát mạng kẻ khác.

Cứ đặt mình vào hoàn cảnh muôn vật xung quanh, mình sẽ hiểu hơn và tự nhiên nhận thức giá trị cuộc sống, trân trọng nó như chính cuộc sống của mình vật, đó là sự dung hoà, hoà hợp giữa người với trời đất vậy.

Mục đích tu tập nói chung của muôn loại, muôn giáo pháp cũng lấy dung hoà ấy làm nền tảng

Mỗi chúng sinh đều là một thứ tồn tại vĩnh hằng theo thời gian, nó chỉ thay đổi hình dạng, trạng thái, cấu trúc của sự hiển hiện bên ngoài qua sắc thọ tưởng hành thức. Vô thường là vậy. Cuối cùng những thứ giả tạm hư huyễn đều sẽ trở về không, còn bản thể của năng lượng vĩnh hằng đó, tuy mỗi cá thể đều dị biệt, nhưng lại giống nhau về tính chất cơ bản. Giống như mỗi hạt cát hay mỗi giọt nước, sẽ không bao giờ có cái giống y chang nó, nhưng cơ bản thì các hạt cát sẽ giống nhau, các giọt nước nhìn sẽ giống nhau, tính chất giống nhau vậy. 

TU HÀNH TRONG ĐẠO PHẬT

Vì vậy bước đầu vào đạo, Phật dạy chúng ta phải giữ năm giới. Giữ năm giới là tu. Phật tử nào không phạm năm giới là người sống xứng đáng trong đạo cũng như đời. Do chúng ta biết giữ năm giới hiện đời bản thân mình tốt, mọi người chung quanh mến thương. Khi nhắm mắt biết chắc chắn sẽ trở lại làm người tốt, nên trong tâm không lo sợ hoảng hốt. Ðó là tu Nhân thừa Phật giáo.

Người không sát sanh đời sau sanh ra tuổi thọ dài. Không trộm cướp đời sau sanh ra có tài sản nhiều. Không tà dâm đời sau sanh ra đẹp đẽ trang nghiêm. Không nói dối đời sau sanh ra nói năng lưu loát, ai cũng quí cũng tin. Không uống rượu mạnh, không uống say; không hút á phiện, xì ke, ma túy đời sau sanh ra được trí tuệ minh mẫn. Như vậy, giữ được năm giới hiện đời sống hạnh phúc, đời sau càng hạnh phúc hơn.

Nên nói tới tu là điều cần thiết cho bản thân mình, cho gia đình và cho cả xã hội nữa. Chớ không phải tu là cầu những chuyện lạ lùng, huyền bí. Nếu một thôn, một xóm ai cũng giữ tròn năm giới thì thôn xóm đó có vui không? Không ai sợ bị ăn cắp, sợ người khác hại, sợ người khác phá gia cang của mình v.v. Ðó là chỗ hòa vui.

Vì vậy tu là biết được gốc của sự an vui. Những gì làm đau khổ chúng ta tránh, những gì tạo niềm an vui chúng ta làm thì cuộc đời tốt đẹp biết dường nào. Nếu không biết tu chúng ta cứ làm những điều xấu, rồi tự chuốc khổ cho mình cho người. Chính mình chủ nhân tạo ra mọi sướng khổ, chớ không phải thần thánh nào cả. Thế nhưng có người động tới liền xin thần thánh "tha cho con". Thật buồn cười.

Chúng ta gieo nhân tốt mới hưởng được quả tốt, không gieo nhân mà đòi hưởng quả đó là chuyện viển vông. Không cần phải xin xỏ ai cả, chỉ khéo tạo nhân tốt để được quả tốt, đó là người sáng suốt thực tế. Phật bảo đó là người khéo tu, biết tu vậy.

Mong tất cả quí vị hiểu được ý nghĩa "chữ tu" cho thật đúng, khéo ứng dụng vào cuộc sống của mình, thì dù nghe ít vẫn lợi lạc nhiều. Bằng ngược lại nghe nhiều mà không khéo tu, cứ mặc tình tạo các nghiệp bất thiện thì chẳng những không được chút lợi lạc, mà phải chuốc quả khổ đau nữa.

*****

Hãy tham gia vào thế giới của Cõi Tâm Linh để khiến bạn thấy tĩnh tâm, an lành và đầy niềm tin vào cuộc sống nhé.
Web : https://www.coitamlinh.com/
Fanpage : https://www.facebook.com/coitamlinhthegioihuyenbi
Group : https://www.facebook.com/groups/coitamlinh
#coitamlinh,#tamlinhhuyenbi,#thegioihuyenbi,#1coitamlinh,#phatphap,#daomau

Sunday, October 18, 2020

CẬP NHẬT DANH SÁCH ỦNG HỘ ĐỒNG BÀO MIỀN TRUNG



Tính đến thời điểm hiện tại, quỹ từ thiện Cõi Tâm Linh đã nhận được tiền ủng hộ đồng bào miền Trung như sau:

Ngày 19/10/2020:

- 1 bạn giấu tên từ ngân hàng Agribank: 1.000.000đ
- 1 bạn giấu tên từ ngân hàng MB: 500.000đ
- 1 bạn giấu tên từ ngân hàng BIDV: 200.000 đ
- Tài khoản tên TRAN CUNG UYEN ngân hàng VCB: 300.000đ
- 1 bạn giấu tên từ ngân hàng Agribank: 100.000 đ

Ngày 20/10/2020:

- 1 bạn giấu tên từ ngân hàng VPBank: 50.000đ

Ngày 21/10/2020: 

- Bạn Mạnh Trường : 50.000đ
- 1 bạn giấu tên từ ngân hàng Agribank: 100.000 đ

(Danh sách đang tiếp tục được cập nhật)


***************

Hãy tham gia vào thế giới của Cõi Tâm Linh để khiến bạn thấy tĩnh tâm, an lành và đầy niềm tin vào cuộc sống nhé.
Web : https://www.coitamlinh.com/
Fanpage : https://www.facebook.com/coitamlinhthegioihuyenbi
Group : https://www.facebook.com/groups/coitamlinh 
#coitamlinh,#tamlinhhuyenbi,#thegioihuyenbi,#1coitamlinh,#phatphap,#daomau

Wednesday, October 7, 2020

Bí mật về loài HUYẾT NGẢI có linh hồn và uống máu người?


Theo nhiều bậc kỳ lão, ngày xưa ở vùng rừng Bảy Núi (An Giang) và vùng Tây Nguyên, loại ngải chúa này mọc hoang rất nhiều. Khi còn mọc hoang, ngải chỉ là cây cỏ bình thường. Pháp sư dùng bùa chú "rước" ngải về vườn nhà "nuôi" rồi "luyện" để ngải có linh hồn. Khi được một pháp sư cao tay ấn "nuôi" và "luyện", ngải sẽ có linh hồn bất diệt. Linh hồn ngải sẽ bám theo pháp sư để bảo vệ như vệ sĩ vô hình.

Hầu hết giới pháp sư Việt đều săn lùng loại Huyết ngải độc thần tướng được cho là chúa tể trong thế giới ngải. Tuy nhiên, giới kiểm lâm khẳng định rằng, ở Việt Nam loại ngải này đã tuyệt chủng từ lâu. Giới tà thuật không đồng ý điều đó. Họ cho rằng, loại ngải đó vẫn tồn tại đâu đó trong vườn nhà một cao thủ tà thuật hoặc ẩn náu nơi nào đó trong rừng sâu, núi thẳm. Có nhiều lý do để giới tà thuật tin điều đó. Lý do cơ bản nhất là căn cứ vào… giai thoại.

NUÔI NGẢI NHƯ NUÔI CON SO


Theo nhiều bậc kỳ lão, ngày xưa ở vùng rừng Bảy Núi (An Giang) và vùng Tây Nguyên, loại ngải chúa này mọc hoang rất nhiều. Khi còn mọc hoang, ngải chỉ là cây cỏ bình thường. Pháp sư dùng bùa chú "rước" ngải về vườn nhà "nuôi" rồi "luyện" để ngải có linh hồn. Khi được một pháp sư cao tay ấn "nuôi" và "luyện", ngải sẽ có linh hồn bất diệt. Linh hồn ngải sẽ bám theo pháp sư để bảo vệ như vệ sĩ vô hình.

Khi pháp sư chết đi, "linh hồn" loại ngải chúa tể ấy sẽ bỏ đi lang thang vào trong rừng sâu trú ẩn mặc dù thân xác tàn lụi. Nó chờ đợi gặp một pháp sư "có duyên" trục về.

Chỉ cần nuôi được một cây "huyết ngải" là pháp sư đã chứng minh mình thuộc đẳng cấp siêu hạng trong giới tà thuật. Bởi theo lời đồn, người "yếu cơ" sẽ không "trục" được ngải về nhà khiến nó sẽ chết.

Các tài liệu "bí kíp" chép tay lưu truyền và lời kể của các pháp sư đang "hành nghề" cho biết, phép "trục" huyết ngải rất nhiêu khê. Khi phát hiện một "ông" ở rừng, pháp sư phải chờ đến đúng 0 giờ mới tiến hành bứng ngải.

Đầu tiên, pháp sư phải đốt nhang rồi vái lạy 4 phương trời, 10 phương Phật rồi tay bắt ấn quyết trừ vong để các vong hồn ma quỉ không nhập vào thân ngải. Cùng lúc đó, pháp sư phải đọc câu thần chú thỉnh ngải "Ohm bok chau bon thum xa…".

Xong thủ tục lễ, pháp sư dùng máu của mình rưới lên hoa để ngải "no bụng". Chờ ngải "ăn" xong, pháp sư dùng 1 củ ngải đen (đã ếm chú, thổi bùa yêu từ hàng tháng trước) phất xung quanh cây huyết ngải để nó bị mùi hương mê hoặc.

Chờ cho huyết ngải bị "lú lẫn" vì bùa yêu, pháp sư mới dùng tay bới nhẹ nhàng xung quanh gốc. Lúc này, pháp sư phải liên tục đọc nhiều bài thần chú cao cấp để ngải hôn mê. Suốt thời gian "trục ngải" pháp sư không được để trong người bất cứ món đồ kim loại nào. Nếu không "mộc khắc kim" sẽ làm ngải chết.

Bứng xong, pháp sư cho cây ngải vào chậu chứa sẵn một loại đất. Để có loại đất này, pháp sư phải dùng đất sét nặn thành ông táo bếp nấu cơm. Sau khi ông táo đã hoàn thành nhiệm vụ nấu cơm suốt 3 tháng, pháp sư giã nhuyễn thành đất mịn cho vào chậu đất nung để trồng ngải.

Khi về đến nhà, pháp sư để nguyên chậu tiếp tục nuôi hoặc chuyển ngải vào vườn nhà. Đất trồng ngải phải là loại đất giã nhuyễn từ ông táo nấu cơm trộn với cát, tuyệt đối không để trộn lẫn rác, phân.

Trong 7 ngày đầu, cách 1 giờ, pháp sư phải đọc thần chú cho ngải nghe. Kết thúc ngày thứ 7, lúc 0 giờ, pháp sư bắt đầu cho ngải ăn bữa đầu tiên bằng máu gà có pha máu người "nuôi".

Đến 0 giờ ngày thứ 99, nếu ngải vẫn còn sống thì xem như cuộc "trục" ngải thành công. Nếu ngải chết sau ngày thứ 99, linh hồn ngải vẫn bám theo pháp sư để bảo vệ hoặc tấn công người khác theo lệnh. Tuy nhiên, "công lực" của loại ngải "chết non" ấy không "mạnh". Ngải từ 3 năm tuổi trở lên mới đủ trí khôn luyện thành những cao thủ vô hình.

Ngải càng lớn tuổi, sức học càng mạnh, công lực càng cao. Tuổi của ngải trở thành thước đo công lực phép thuật của người nuôi ngải. Người yếu phép thuật, ngải chỉ sống đến 1 năm. Pháp sư bậc trung nuôi ngải được 3 năm. Pháp sư cao cường sẽ nuôi ngải sống trường thọ bằng tuổi mình.

Đem được về vườn nhà trồng là một chuyện, nuôi dưỡng để "huyết ngải" tươi tốt là chuyện khác và luyện để ngải có linh hồn lại là chuyện khác nữa.

BÍ TRUYỀN LUYỆN NGẢI


Giới tà thuật cho rằng, ngải được "nuôi" sẽ có linh hồn như con người. Ngải dưới 3 tuổi có tính tình giống một đứa trẻ, cũng giận, hờn, đùa giỡn, hay phá phách và không biết vâng lời.

Để ngải vâng lời, pháp sư phải dạy dỗ bằng những phương thuật ếm, chú gọi là "luyện ngải". Với các loại ngải khác, họ dùng củ để luyện nhưng với huyết ngải, họ dùng hoa.

Mỗi đài hoa huyết ngải luôn có những giọt nước như giọt sương gọi là "thủy tử". Pháp sư chờ ngày trăng tròn, dùng 1 cái lọ thủy tinh hớt từng giọt thủy tử. Lọ thủy tinh chứa thủy tử được đặt trên bàn thờ tổ dưới 1 ngọn lửa nến. Hàng ngày pháp sư phải niệm chú vào lọ thủy tử.

Đến ngày thứ 49, thủy tử trở thành một loại nước đặc sệt dưới đáy lọ thủy tinh. Lúc này, pháp sư lại dùng lọ thủy tử "bẻ răng" rết 49 lần và rắn 49 lần. "Bẻ răng" là cách gọi của việc chiết nọc độc từ 2 con vật này. Lọ thủy tử có chứa nọc rết và rắn lại được để lên bàn thờ tổ hong nến và nghe niệm chú 49 ngày nữa cho cô đặc như hắc ín. Pháp sư se chất độc đó thành một viên thuốc tễ gọi là Khalamay.

Mỗi khi có đám ma, thầy Ba Cao Lãnh xin vào cúng rồi lén nhét Khalamay vào tay tử thi để ngải hút sinh khí người chết. Sau 5 lần hút sinh khí, Khalamay sẽ được nhét vào miệng con rắn độc. Sau khi rắn chết, thầy Ba Cao Lãnh mổ bụng rắn lấy nguyên dạ dày có chứa Khalamay ra phơi thật khô rồi tán nhuyễn thành bột cất vào lọ thủy tinh nhỏ hoặc đổ vào chai dầu gió.

Để thử công năng của ngải, pháp sư "thư ếm" một con chó. Nếu chó lăn ra chết hoặc không hề hấn gì thì ngải đã bị luyện sai, phải đào hố chôn. Ngải luyện đúng bài nạn nhân không được chết ngay mà phải chết dần mòn.

Muốn “thư ếm” ai, pháp sư chỉ cần nhúng móng tay út vào bột Khalamay rồi bắt ấn quyết, miệng niệm thần chú. Thủ pháp bắt ấn có nhiều động tác búng ngón tay út về phía đối thủ nghe tí tách. Hồn ngải nghe tiếng tí tách này nhập vào đối thủ. Người bị thư ếm không chết ngay mà những ngày sau sẽ bị thổ huyết, tay chân lở loét, bụng trướng, nói lảm nhảm như ma nhập, bệnh nặng dần rồi chết. Người bị "trúng" Huyết ngải độc thần tướng phải đến pháp sư xin tội, cúng lễ "trục" ngải.

Để "trục ngải", pháp sư phải dùng một loại ngải khác vẽ bùa trên giấy rồi đốt thành tro hòa nước lã cho bệnh nhân uống.

Rất nhiều bậc kỳ lão sống ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đã từng tận mắt chứng kiến nạn nhân bị trúng huyết ngải và cả pháp sư trục ngải. Họ khẳng định, người bị thư ếm, chỉ cần uống bùa của pháp sư cao tay ấn là tỉnh táo ngay. Đó là lý do tà thuật tồn tại đến ngày nay.

RẤT NHIỀU BẠN HỎI VỀ HUYẾT NHÂN VÀ HÀNH THI NGẢI.


Ad cần đính chính đến các bạn về những thông tin sai lệch trên mạng khi đăng tải về hình dáng huyết nhân ngải, bởi có rất nhiều hình ảnh trên mạng khi search ra khiến mọi người đã nhầm cây huyết nhân ngải với cây hoa xác thối, đã thế tai hại hơn là có shop còn đăng bán cây hoa xác thối mà ghi là huyết nhân ngải, quả là quá sai lầm. Người không biết cho nó là cây thần mà mang về thờ cúng, trong khi huyết nhân đâu có dễ kiếm như vậy.

Huyết nhân có hoa nhỏ li ti như máu, chứ không to đoành như trên mạng đăng.

Còn hành thi ngải nói thêm chút là người nào luyện được hành thi thì dao kiếm đao súng thuốc độc hay bệnh đau gì cũng không giết chết được. Khi hành thi nhập vào chủ nhân nó, các tế bào sẽ hồi phục tái sinh lại rất nhanh chỉ trong 1 giây.

Nhưng các ngải sư thời xưa rất hiếm có ai mà luyện được hành thi ngải đến trình bất tử như vậy. Chưa kể người biết được đến hành thi cũng đã rất hiếm hoi chứ nói gì đến nắm giữ được toàn năng của nó, nên chuyện luyện hành thi ngải nhập đến bất tử vẫn là một huyền thoại trong giới ngải nghệ thần bí.

*****
(Tổng hợp)
#coitamlinh,#tamlinhhuyenbi,#thegioihuyenbi,#1coitamlinh,#phatphap,#daomau

Wednesday, September 30, 2020

Câu chuyện bí ẩn về "Bà heo năm Hợi" ở Sóc Trăng.



Theo sư phó Tú Linh (chùa Mã Tộc, tức chùa Dơi, Sóc Trăng), con heo tên Năm Hợi chùa nhận vào năm 1989. Khi đó, chùa Dơi còn khá hoang vu, cây cối rậm rạp, dơi bay rợp trời, đậu dày đặc trong vườn cây cổ thụ.

Chùa Dơi còn khá hoang vu, cây cối rậm rạp, dơi bay rợp trời, đậu dày đặc trong vườn cây cổ thụ. ( hình ảnh chùa dơi )
Trong chùa có bà cụ Khiên, là người trông nom, quét dọn chùa. Đêm ấy, sau một ngày mệt nhọc vì quét dọn chùa, rẫy cỏ ngoài vườn, bà Khiên nằm ngủ mê mệt. Trong giấc mơ, Bồ Tát hiển linh bảo với bà rằng, ngày mai, sẽ có một nữ thí chủ đến chùa xin quy y.

Bà Khiên giật mình tỉnh giấc, toàn thân toát mồ hôi. Bà trở dậy, thắp hương trên chính điện. Bà Khiên tin rằng, Bồ Tát hiển linh đã thông báo với bà một tin trọng đại. Sáng hôm sau, bà Khiên dậy sớm hơn thường lệ. Vừa quét chùa bà vừa ngó chừng ra cổng xem có ai đến không.
Ngày đó, chùa Dơi rất vắng, lại chỉ có một cổng nhỏ, nên ai ra vào bà đều kiểm soát được. Gác cửa mãi đến tận trưa mà chẳng thấy nữ thí chủ nào như lời Bồ Tát báo mộng.

Nghĩ rằng giấc mộng không hiển linh nên bà Khiên tiếp tục công việc quét dọn của mình. Bà Khiên ngỡ ngàng khi phát hiện ở phía sau chùa, trong vườn dơi, có một con heo cái rất lớn đang ngủ ngon lành. Không biết heo nhà ai xông vào chùa, làm ô uế không gian thanh tịnh, nên tức mình, bà Khiên cầm chổi đập nhẹ vào mông, đánh thức nó dậy. Tuy nhiên, bà Khiên làm đủ trò mà con heo không chịu dậy, cứ ủn ỉn, rồi rên la.

Bà phải nhờ mấy du khách dùng que ngoáy vào tai, “cô nàng” mới chịu ngúc ngoắc cái đầu. Nhưng nó cứ đứng ì một chỗ, không chịu nhúc nhích. “Nữ thí chủ” đến chùa quy y! Một du khách bỗng hét lên: “Heo năm móng bà ơi! Heo này thiêng lắm, là cốt tinh của người đấy! Nó vào chùa là có duyên với nhà chùa rồi bà ạ”.

Lúc này, bà Khiên mới nhìn xuống chân con heo ấy, hóa ra là heo năm móng thật.( heo bình thừơng có 4 móng ) Khi ấy, bà mới giật mình nhớ lại giấc mộng đêm qua. Thì ra, nữ thí chủ đến chùa quy y chính là “nàng heo” này.
Bà Khiên không đuổi heo đi nữa, mà dùng nước lá tắm cho vị khách kỳ lạ này như rửa bụi trần. Nhà chùa nghe chuyện bà Khiên kể, rồi chứng kiến những biểu hiện lạ của “thí chủ mới đến cửa chùa”, cũng tin giấc mộng của bà Khiên là điềm báo của Phật. Vì thế, nhà chùa đã làm đủ các thủ tục cần thiết để nhận “cô heo” vào chùa. Bà Khiên chuẩn bị chỗ cho heo ở.

Với nhà Phật, con heo cũng là một kiếp sống, nên nhà chùa đối xử với heo như mọi thành viên trong chùa. Ban ngày nó chạy rong trong khuôn viên, tối chui vào ổ ngủ và đến bữa thì được các nhà sư mang đồ ăn cho. “Thí chủ “quy y kỳ lạ đó được mọi người đặt tên là Năm Hợi.
Nghĩ rằng nhà chùa có khả năng hóa giải nghiệp chướng heo “năm móng, ba giò” nên người dân quanh vùng dắt những con heo này đến gửi nhà chùa nuôi.

Thế là trên trời có đàn dơi, dưới đất có đàn heo ủn à ủn ỉn suốt ngày. Cũng từ ấy “cô heo” Năm Hợi trở thành “đại tỉ” của đàn heo đặc biệt tới hơn chục con. Điều đặc biệt là đàn heo không nghịch ngợm, không ủi đất, không phá hoại lung tung và rất lịch sự, không ị bậy bạ ra chùa. Ngày nào cũng thế, bất kể nắng mưa, sáng sớm Năm Hợi dẫn đầu, “đàn em” theo sau, xếp hàng thứ tự từ lớn đến nhỏ, lục tục ra khỏi sân chùa đi… khất thực.

Chúng cứ lặng lẽ đi dọc đường, qua các khu chợ, khu dân cư. Đoạn đường đàn heo đi khất thực dài hơn 3km, qua chợ Sóc Trăng, vào tận thành phố, rồi trở về chùa đúng lúc nhà chùa sắp tụng kinh. Người dân hai bên đường thấy đàn heo đi qua thì bố thí cho đồ ăn.
Có lẽ đã “quy y cửa Phật” nên chúng rất hiền, tuyệt nhiên không càn quấy, phá phách gì ngoài đường, ngoài chợ. Người dân cũng rất… tôn trọng đàn heo. Nhiều bà lão khi thấy chúng đi qua nhà mình liền mời dừng lại chơi rồi… dâng trầu và các chú ỉn thảnh thơi nhai bỏm bẻm, miệng đỏ tươi nhìn rất ngộ Ở chùa, đàn lợn cũng ăn theo chế độ ăn ngọ, tức là chỉ ăn uống trước 12h mỗi ngày, sau giờ đó là không ăn gì nữa. Khẩu phần ăn của chúng đơn giản như các nhà sư, khất thực được thứ gì thì ăn thứ đó.

Đồ ăn chủ yếu là đồ chay. Thế nhưng chẳng hiểu sao chúng lại lớn rất nhanh. Cô “Năm Hợi” đạt kích cỡ khổng lồ nhất, nặng đến 400kg, trông lừng lững như một chú voi con. Năm Hợi ở chùa được 7 năm thì “viên tịch” vì tuổi già. Sư phó Tú Linh của chùa Mã Tộc cho biết, cuối năm 1996, “Năm Hợi” chọn một nơi yên tĩnh ở góc vườn chùa nằm nghỉ rồi “hóa” một cách thanh thản, như thể tránh cho du khách viếng chùa khỏi trông thấy hình ảnh buồn.

Chính những biểu hiện kỳ lạ này mà khi “Năm Hợi” chết, nhiều người đã đến hương khói, cúng vái và họ đều xưng hô là “cô Năm Hợi”. Sau khi “Năm Hợi”, cũng như những anh, chị heo khác ở chùa chết, cũng đều được các sư chôn cất trong nghĩa địa sau chùa. Lễ mai táng cũng đầy đủ thủ tục, như mai táng người đã khuất.

Sau khi Năm Hợi “hóa”, một ngày, có người đàn bà từ Sài Gòn tìm đến chùa, nước mắt sụt sùi bảo với các nhà sư : “Nhiều lần người mẹ quá cố của con báo mộng rằng, mẹ con đầu thai làm heo, tên là Năm Hợi, sống ở chùa Mahatup (chùa Dơi, chùa Mã Tộc). Con mong các nhà sư cho con được làm lễ cầu hồn để linh hồn mẹ con được siêu thoát”.

Nhà chùa đã đồng ý để người phụ nữ này đạt được ước nguyện. Lễ cầu siêu hoành tráng xong xuôi, thì người phụ nữ này chỉ đạo thợ xây ngôi mộ, vẽ hình một con heo béo tốt lên bia, ghi tên Năm Hợi, với cả ngày “hóa”

*****
Hãy tham gia vào thế giới của Cõi Tâm Linh để khiến bạn thấy tĩnh tâm, an lành và đầy niềm tin vào cuộc sống nhé.
Web : https://www.coitamlinh.com/
Fanpage : https://www.facebook.com/coitamlinhthegioihuyenbi
Group : https://www.facebook.com/groups/coitamlinh
#coitamlinh,#tamlinhhuyenbi,#thegioihuyenbi,#1coitamlinh,#phatphap,#daomau


Tại sao Tết Trung thu lại có múa lân?

Tết trung thu, khắp đường làng, ngõ phố nhộn nhịp tiếng trống cùng những điệu múa Lân. Người Trung Hoa thường tổ chức múa rồng vào dịp Trung Thu, còn người Việt múa sư tử hay múa lân. Vậy tại sao Tết Trung thu lại có múa lân? Múa lân rằm tháng 8 có ý nghĩa gì về mặt tâm linh không?

NGUỒN GỐC CỦA TỤC MÚA LÂN?

Phong tục múa lân bắt nguồn từ Trung Quốc. Hình ảnh con lân đã được người Trung Quốc thờ trong Thái Miếu ngay từ thời Khổng Tử và xếp vào bộ tứ linh là Long – Lân – Quy – Phụng.

Theo truyền thuyết của nước này, vào thuở khai thiên lập địa có một con thú ăn thịt người năm nào cũng đến rằm tháng Tám là xuất hiện, tác oai tác quái, làm cho dân làng hoảng sợ. Bỗng, ngày nọ có một nhà sư đến giúp dân trừ ác thú. Nhà sư cho một đệ tử bụng to, mặc bộ đồ đỏ rực, tay cầm chiếc quạt thần phất liên tục để xua ác thú và một số đệ tử khác thì gióng trống khua chiêng dồn dập, làm con ác thú khiếp đảm bỏ chạy.

Từ truyền thuyết đó, người Trung Quốc cải biên nhiều lần, cuối cùng đã biến con ác thú trở thành con lân, đệ tử bụng to trở thành ông địa và số đệ tử gióng trống khua chiêng trở thành những người đánh trống, đánh xập xèng trong một đội múa lân. Ngày rằm tháng Tám hãi hùng trong truyền thuyết trở thành ngày Tết Trung thu của trẻ em. Tết Trung thu kéo dài nhiều ngày vào thời điểm giữa tháng Tám âm lịch hàng năm và múa lân là hoạt động chính trong dịp tết này.

Dần dần, phong tục múa lân và Tết Trung thu phát triển sang nhiều nước khác. Kiểu múa cổ nhất là múa kỳ lân. Đầu kỳ lân có 3 dạng chính: miêu hình, hổ hình và hổ báo hình. Độ to nhỏ của đầu lân và mình lân tuỳ theo kích thước của người múa lân. Còn quy mô thiết kế, chất liệu, thẩm mỹ thì phụ thuộc vào khả năng tài chính của những người tổ chức.

Ý NGHĨA CỦA PHONG TỤC MÚA LÂN VÀO TẾT TRUNG THU


Múa lân trung thu không chỉ là phong tục, là ý nghĩa nghệ thuật mà còn là sự tranh tài giữa các đội lân với nhau. Tùy theo không gian rộng hẹp, các dịp lễ mà lân có những bài biểu diễn khác nhau. Người ta có thể kết hợp nhiều lân, rồng với nhau để tạo hình múa lân ấn tượng, bắt mắt.

Thường múa Lân sẽ được tổ chức vào đêm 14 và đêm 15. Đội múa Lân gồm có một người đội chiếc đầu lân và chỉ huy cả đội múa những điệu bộ của con vật này theo nhịp trống. Con Lân tượng trưng cho điềm lành vì vậy múa Lân đêm trung thu là ước mong cho những điềm lành đến với mọi nhà

Nhiều gia đình đều đặn đến dịp Trung thu là rước lân vào nhà nhảy múa để “xua tà khí” và đêm đến những điều tốt lành. Cũng không ít người cho rằng, gọi lân vào múa cho vui cửa vui nhà và cũng là để “ủng hộ các cháu”, bởi cuối bài biểu diễn bao giờ cũng có động tác lân ngậm tiền thưởng của gia chủ.

CÁCH THỨC MÚA LÂN HIỆN NAY


Xưa kia, lân chỉ múa trên mặt đất, ngày nay lân còn múa trên các giàn sắt cao với nhiều động tác cực kỳ ngoạn mục. Từ múa lân, nhiều nơi còn tạo dựng thành múa sư tử, múa rồng. Ở nước ta những năm gần đây, Hội thi múa lân trong dịp rằm tháng tám được tổ chức rất tưng bừng tại nhiều địa phương, cơ quan, đơn vị. Những con lân được trang trí rất đẹp mắt, nhảy múa theo kịch bản với sự luyện tập hết sức công phu khó nhọc.

Hiện nay người ta thường múa lân (miền Bắc gọi là múa sư tử) vào trước tết Trung Thu nhưng nhộn nhịp nhất là hai đêm 14 và 15. Múa sư tử thì khác múa lân, người múa núp kín thân mình trong bụng sư tử giả và sư tử thì không có sừng. Một tiết mục múa sư của người Hoa gồm 4 người: 2 người múa, 1 người đánh trống, 1 người cầm quả cầu. Trống trong múa sư được đánh theo nhịp khác với múa lân, người ta gọi nhịp trống trong múa sư là nhịp trống Bắc Kinh.

Trong quá trình biểu diễn múa lân, tiếng trống giữ vai trò chủ đạo. Khi lân múa: nhịp trống nhanh, lân quỳ: nhịp trống chậm lại, lân ngủ: nhịp trống thưa và nhẹ, lân thức dậy: nhịp trống rộn ràng, lân vượt chướng ngại hay ngoạm cờ, ngoạm tiền vào miệng: tiếng trống nhanh, mạnh, liên hồi… Ông địa có vai trò hết sức quan trọng và dễ gây ấn tượng với những động tác như địa chào, địa làm hề, địa dắt lân… Có những ông địa nói lời chào hay, khiến gia chủ rất vui. Chẳng hạn: “Nay lân vào đuổi tà ma/Cho cửa nhà lộc đỏ, cho trái hoa chín vàng/Chúc cho gia chủ bình an/Học hành đỗ đạt, mùa màng bội thu”.

(Tổng hợp)
*****
Hãy tham gia vào thế giới của Cõi Tâm Linh để khiến bạn thấy tĩnh tâm, an lành và đầy niềm tin vào cuộc sống nhé.
Web : https://www.coitamlinh.com/
Fanpage : https://www.facebook.com/coitamlinhthegioihuyenbi
Group : https://www.facebook.com/groups/coitamlinh
#coitamlinh,#tamlinhhuyenbi,#thegioihuyenbi,#1coitamlinh,#phatphap,#daomau